Hành trình từ những hạt nếp

Lễ hội bánh chưng qua hành trình từ những hạt nếp

(Viết theo gợi ý của Linh mục Trần Ngọc Tân)

DSCF2165

Ngày Hè, kể chuyện bánh chưng

Đậu vàng, nếp bạc vui chung cộng đoàn

Trời Melbourne đang mùa nắng Hạ, nắng chang chang, mặt trời gay gắt chiếu xuống trần gian những tia nắng chói. Nắng như có lửa, nóng, có những ngày nóng, rất nóng! Cái nóng khiến cho những ai không có việc gì cần thiết đều muốn ngồi yên trong nhà cho khỏe người. Những cơn mưa mùa này hình như cũng sợ nắng hay sao mà trốn đâu mất! Trong cái nắng Hạ đó, Người Việt Nam ở Úc không quên cùng hướng về quê hương để đón mùa Xuân “tréo cẳng ngỗng,” Xuân ở trong nắng Hè! Lác đác tiếng pháo tết đã nổ dòn đâu đó ở các hội chợ tết.

Tết, nói đến Tết theo phong tục cổ truyền Việt Nam không thể thiếu bánh mứt và hoa tươi, mà nói tới bánh thì không thể thiếu đòn bánh tét dài dài, và nhất là tấm bánh chưng vuông vức hiện diện trong mọi nhà, từ thành thị đến nông thôn, từ trong nước truyền qua đến hải ngoại, nơi nào có Người Việt Nam sinh sống thì nơi đó có Tết và có bánh chưng. Không kể đến sang, hèn, giầu, nghèo nhà nào hầu như cũng có tấm bánh trong nhà để đón tết, mừng Xuân.

Theo truyền thuyết từ đời các vua Hùng để lại, bánh dầy tượng trưng cho trời, và bánh chưng tượng trưng cho đất. Những tấm bánh được làm ra sau những ngày mùa vất vả để tạ ơn trời đất sau một năm qua đi. Bánh chưng hay bánh dầy đều được dùng nguyên liệu chính là nếp, cộng nhân đậu xanh với thịt và thêm vài phụ liệu làm tăng các hương vị đặc trưng, làm cho chiếc bánh thêm đậm đà hợp với khẩu vị của nhiều người. Bánh chưng cũng dễ làm, nên nhiều nhà tự gói một vài chục tấm để ăn, hay mỗi nhà mấy tấm chung với nhau một nồi nấu, hoặc giả có nhà gói nhiều để bán cho những người không có điều kiện, không có thời gian để làm. Vậy để có đồng bánh chưng, người ta phải làm như thế nào nhỉ? Nhân dịp Tết sắp đến, qua sự gợi ý của Linh mục quản nhiệm Trần Ngọc Tân, nói Mõ thử viết một bài kể về hành trình của hạt nếp để thành một tấm bánh chưng. Vâng lời Ngài nên Mõ tui viết bài này

Đúng là bánh chưng dùng nếp để làm, để nấu. Nhưng để từ hạt nếp trở thành tấm bánh không ngờ nó lại nhiều công việc phải làm như vậy. Ông Lê Văn Miện, người phụ trách chung cho lễ hội bánh chưng Trung tâm Vinh Sơn Liêm đã liệt kê ra tới 25 công việc để hình thành một tấm bánh. Vậy nên Mõ không biết mình phải bắt đầu từ đâu bây giờ, vì trước khi người ta có đủ nguyên liệu để đứng gói bánh, thì người phụ trách đã bỏ ra bao nhiêu công để chuẩn bị: nào mua lá, mua nếp, mua đậu, mua hành, mua thịt, mua mắm, mua muối, mua giây, làm khuôn, chuẩn bị nồi nấu, củi lửa, chỉ kể sơ sơ nghe chừng như đã mệt rồi.

Ở Việt Nam, người ta có loại lá dong và giây lạt để gói bánh dễ dàng lắm, nhưng ở Úc, loại lá này không có, nên những nhà gói bánh phải dùng loại lá tre. Lá tre họ hái xong mang sấy khô, thật khô, đóng gói trong bao nylon bán ở Úc, mà lá tre này chỉ dành cho người Việt mình dùng gói bánh chưng thay cho lá dong (gọi là bánh chưng kiểu Úc nhỉ). Đương nhiên là do không có lá dong nên phải dùng cái loại lá tre vừa cứng, vừa nhỏ này để gói bánh. Trước khi gói bánh, việc chuyển hóa cái lá tre khô khẳng cứng còng kia trở về mềm mại cũng khá vất vả, nào cắt cuống lá, ngâm cho lá ngấm nước rã bụi đất nếu có, rồi mang luộc để chiếc lá mềm hơn, cắt đầu lá cho vừa với khuôn, lau lá cho sạch, gấp lá, tỉa cho vào khuôn để gói bánh.

Nếp được vo đi vo lại nhiều lần cho hết cám, ngâm trong nước sạch để qua đêm, vớt để cho ráo nước xong mới đong đếm cho đúng số lượng cần cho một tấm bánh, muốn bánh có mầu xanh mầu lá thì trộn chút màu xanh lá dứa. Đậu làm nhân thì được nhặt sạn kỹ càng trước khi hấp chín, để nguội. Thịt nhân cũng được cân đong theo cân lượng để không nhiều quá ăn ngán, ít quá thì không ngon.

Khuôn cũng được đóng đúng với kích thước, vuông vức, vừa phải, trông cân xứng. Có đủ những thứ nguyên liệu kể trên rồi, người gói bắt đầu làm việc theo thứ tự: đặt sợi giây cột bên dưới cái khuôn, xếp bốn cái lá góc cho khéo theo mặt trái phải, sao cho mặt trên của mặt chiếc bánh có cạnh vuông vuông, xinh xắn, xếp lá độn xung quanh, độn thêm lá góc cho bánh khỏi bể khi nấu, một chiếc bánh cũng phải mất từ 24 tới 30 cái lá tre mới an toàn cho chiếc bánh đẹp. Sau khi thấy lá xếp đã đủ kỹ, dùng một lon nếp thứ nhất đổ vào khuôn lá dùng tay dàn đều và nhấn chặt các góc khuôn cho nếp đều khắp, vuông bánh, dùng khuôn nhân vuông nhỏ hơn đặt chính giữa rồi lấy hộp đựng nhân cũng đã được cân đong cẩn thận, một lon đậu trước, rồi thịt, rồi tiếp một lon nhân đậu, cũng dàn ra cho đều, sau đó lấy khuôn nhân ra, dùng lon gạo thứ hai đổ khéo chung quanh để giữ làm sao cho nhân không bị tràn ra ngoài lớp nếp, rồi còn bao nhiêu nếp đổ tràn đều bên trên lớp nhân cho kín, cũng dàn đều rồi bẻ các mép lá xuống theo thứ tự, vuông vắn, khi các lá đã nằm êm, dùng tay đè chặt, xong lấy khuôn ra, bắt đầu cột giây ngang, dọc từ giữa ra ngoài, không lỏng quá và cũng đừng chặt quá, vì lỏng thì lá sẽ bung ra, mà chặt quá, khi nấu nếp nở ra làm rách lá. Đặc biệt, giây cột bánh phía ngoài phải đan xéo chắc chắn để giây không bị tuột khi vớt bánh. Thấy chưa, Mõ mới tả có phần gói bánh mà đã muốn hụt hơi rồi.

Khi đã đủ số bánh cho một nồi nấu, người ta mới chuẩn bị xếp vào nồi, cái vụ xếp bánh vào nồi này tưởng dễ, nhưng cũng đòi hỏi chút kinh nghiệm, không được xếp lỏng quá, và cũng không được chặt quá, xếp làm sao cho nước khi sôi dễ dàng lưu thông đều khắp từ trên xuống dưới nồi để bánh chín đều. Khi bánh đã được xếp xong, đổ nước ngập trên bánh chừng 15 phân cho các tấm bánh phía trên cũng ngập chìm trong nước, để bánh chín đều, sau đó mới nhóm bếp. Bên này họ thường dùng bếp khò gas để nấu, giúp cho người coi phần ‘khói lửa’ bớt đi sự vất vả của những người nấu bánh bằng củi. Vì bếp khò gas rất đều lửa, nên chỉ còn phải canh nước, nếu nước thiếu phải châm thêm để phần bánh phía trên luôn có nước sôi đầy đủ. Một nồi bánh chắc ăn phải nấu từ 6 tới 8 giờ kể từ khi nước bắt đầu sôi. Có lẽ, phần nấu và vớt bánh là vất vả nhất, vì vừa nóng, vừa phải làm nhanh, chuyển qua ép bớt nước, rồi ép giữ cho chiếc bánh có hình dáng vuông vắn, dễ nhìn.

Khi xác định bánh đã chín, tắt lửa bếp, sau đó múc nước trong nồi cho cạn bớt, rồi dùng móc, móc những chiếc bánh nóng hổi từ trong nồi ra cho vào những thau nước sạch, dùng khăn lau cho sạch mỡ màng hai hay ba lần tùy theo mức mỡ bọt nhiều ít. Lau xong chuyển qua để nước ráo, rồi chuyển tiếp đến bàn ép. Sau một đêm, nước đã khô và bánh nguội, chắc lại, là lúc bánh đã có thể ăn được. Bóc lớp vỏ, cắt tấm bánh chắc nịch, xanh xanh mầu lá, bên trong nhân vàng vàng mầu đậu, điểm chút nâu nâu của thịt trông cũng bắt mắt, những hạt nếp dẻo mà rền ăn vừa ngầy ngậy, ngon ngon. Ăn bánh chưng đã ngon, mà ăn bánh chưng kèm với củ kiệu, dưa hành, giò thủ, dưa món nữa thì tuyệt cú mèo.

Ngày tết, nhớ câu đối:

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ.

Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.

Ở xóm Mõ ngày nhỏ, có ông hàng xóm, khi tết về lại ngâm nga theo kiểu khác để tự đùa rằng:

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ, bánh chưng xanh, không gạo! Vợ lừ chồng.

Năm nay tại Trung tâm Công giáo Việt Nam Thánh Vinh Sơn Liêm,  có lễ hội bánh chưng, Thấy lễ hội thật vui, lễ hội bánh chưng VSL. có mấy năm rồi. Hỏi rằng gói bánh chưng bán có lời không? Mõ thưa ngay, nếu tính toán kỹ theo người làm kinh tế thì không có lời. Vì làm ra chiếc bánh như Mõ vừa kể trên mất nhiều công quá. Nếu như họ chuyên nghiệp mà làm thì còn nhanh, đàng này toàn những người thiện nguyện vì niềm vui của cộng đoàn mà tới giúp, có những cụ cả trăm tuổi và có cả những em bé theo ông bà đến giúp các phần việc phụ. Chưa kể phần phục vụ nấu ăn cho hằng mấy chục người, để có những bữa cơm tập thể đông vui lắm lắm. Ai chưa một lần được hưởng niềm vui lễ hội bánh chưng, xin mau đến để được chung tay cùng lễ hội và hưởng niềm vui chung của cộng đoàn.

Nhưng nói về mặt tinh thần thì các cộng đoàn lời thật nhiều, lời vô giá, vì khi được nhìn các ông, các bà đến phục vụ thật đông đảo, với nét mặt mà ai cũng tươi vui. Quanh bàn làm việc, những câu chuyện xưa, chuyện nay, người già kể lại, truyền cho người trẻ nghe, chỉ cho nhau làm, giúp sửa cho nhau trong tình thân ái, đúng là lễ hội. Lễ hội giúp cho Cộng đoàn có những sinh hoạt cuối năm thật vui, mà đúng là vui như tết, tiếng cười cứ mãi vang vang. Mọi người trong cộng đoàn được ví như những hạt nếp rời rạc trắng bạc kia, đến bên nhau, qua mùa lễ hội, được những đôi tay vàng khéo léo làm cho họ nở ra những bông hoa yêu thương, những tinh anh phục vụ vì người khác, tiết ra chất keo dẻo để kết chặt cùng nhau, làm thành tấm bánh thơm tho, chắc nịch, đậm ân sủng để dâng lên tổ tiên, ông bà. Và nhất là được dâng lên Thiên Chúa như lời cảm tạ, vì Người đã ban cho mọi người trong cộng đoàn năm vừa qua được an bình, hạnh phúc.